THÔNG TIN KỶ THUẬT

Tìm Hiểu Top 5 Các Bệnh Thường Gặp Ở Chó

Khi bạn nuôi 1 chú chó, cũng giống như việc nuôi 1 đứa trẻ vậy. Bạn cần tìm hiểu thật kỹ các bệnh thường gặp ở chó. Qua đó, bạn sẽ biết cách phòng tránh các bệnh này và giúp cho chó cưng có 1 cuộc sống khỏe mạnh.

Các bệnh thường gặp ở chó

Chó cũng là 1 cơ thể sống. Nên việc chúng bị mắc bệnh trong quá trình nuôi dạy là hoàn toàn có thể xảy ra. Trên thế giới đã ghi nhận có hàng nghìn các loại bệnh của chó khác nhau. Mỗi bệnh đều có những mức độ nguy hiểm riêng. Dưới đây là 5 bệnh thường gặp ở chó và có mức độ nguy hiểm cao.

Bệnh Parvo

Đây là 1 trong những loại bệnh nguy hiểm bậc nhất ở chó. Là nỗi ám ảnh của nhiều người nuôi chó. Theo ông Nguyễn Văn Hòa – bác sĩ thú y tại Bệnh viện thú y PetHealth cơ sở Âu Cơ thì cứ đến mùa là bệnh viện lại chật kín các ca lây nhiễm Parvo.

benh-parvo-o-cho

  • Bệnh Parvo ở chó còn được gọi là bệnh viêm ruột truyền nhiễm. Bệnh này do Canine Parvovirus (CPV) gây ra và là 1 bệnh truyền nhiễm cấp tính. Biểu hiện của bệnh là gây ra hiện tượng viêm dạ dày – ruột xuất huyết.
  •  
  • Bệnh thường xuất hiện nhiều nhất trên chó con từ 1-6 tháng tuổi. Gây tỉ lệ chết rất cao lên đến 90-100%. Chó trên 6 tháng tuổi thường có sức đề kháng tự nhiên với bệnh.
  • Đến nay, bệnh vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Cách điều trị duy nhất là tăng sức đề kháng cho chó bằng các loại thuốc kháng sinh, thuốc bổ… Qua đó chó sẽ tự tạo kháng thể để đào thải mầm bệnh.
  • Do bệnh Parvo ở chó rất nguy hiểm và chưa có thuốc điều trị nên việc phòng bệnh là vô cùng cần thiết. Cách phòng bệnh hiệu quả nhất là tiêm vacxin cho chó. Những loại vacxin này có giá thành khá rẻ và luôn có sẵn tại các bệnh viện thú y.

Bệnh Care

Nếu đã nhắc đến bệnh Parvo thì ko thể không nói đến bệnh Care ở chó. Đây là nguyên nhân gây ra cái chết cho rất nhiều chú chó mỗi năm.

  • Bệnh Care ở chó hay còn gọi là bệnh sài sốt là 1 bệnh truyền nhiễm cấp tính của loài ăn thịt. Bệnh lây lan rất mạnh với các biểu hiện đặc biệt là viêm dạ dày, viêm ruột, niêm mạc đường hô hấp, viêm phổi,…
  • Bệnh thường xuất hiện trên các giống chó nhập ngoại có độ tuổi từ 2-12 tháng. Đặc biệt là chó con khoảng 4 tháng tuổi. Chó trên 1 năm tuổi vẫn có nguy cơ mắc bệnh nhưng sẽ ít hơn.
  • Cũng như bệnh Parvo, bệnh Care ở chó hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Để điều trị bệnh cần kịp thời bổ sung nước và các chất điện giải đã mất do ỉa chảy. Tăng cường sức đề kháng cho chó và đề phòng nhiễm trùng kế phát.
  • Bệnh Care ở chó là 1 loại bệnh nguy hiểm nên tuyệt đối không tự điều trị cho chó tại nhà nếu chưa có chỉ định của bác sĩ thú y.
  • Cách phòng bệnh Care ở chó hiệu quả nhất là tiêm phòng. Có nhiều loại vacxin phòng bệnh khác nhau phù hợp với túi tiền của chủ nuôi.

Bệnh dại 

benh-dai-o-cho

Nếu nói về những căn bệnh kinh điển ở chó thì ko thể ko nhắc tới bệnh dại. Trong thập niên 80,90 ở Việt Nam thì chó bị mắc bệnh dại rất nhiều.

  • Đây là 1 bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm ở chó mèo và đều do virus dại gây ra. Bệnh có thể lây lan từ động vật sang người. Chỉ cần 1 vết cắn gây rách da là bệnh đã có thể lây lan.
  • Bệnh dại có các biểu hiện như điên cuồng,bại liệt. 1 khi đã bị nhiễm bệnh thì gần như không có cách nào cứu chữa.
  • Biện pháp để phòng tránh bệnh dại hiệu quả nhất hiện nay đó chính là tiêm phòng. Trong những năm gần đây, bệnh dại ở Việt Nam đã giảm xuống rõ rệt do chính sách tiêm phòng bắt buộc của nhà nước.

Bệnh Lepto

Căn bệnh này tuy không gây chết nhiều như bệnh Parvo hay bệnh Care. Nhưng khi đã nhiễm phải thì tỉ lệ tử vong cũng không phải là nhỏ.

benh-lepto-o-cho-1

  • Bệnh Lepto là bệnh truyền nhiễm chung giữa người, gia súc. Bệnh có các triệu chứng như sốt kéo dài giống như bệnh cúm, tổn thương gan thận, thậm chí gây viêm não.
  • Bệnh Lepto không loại trừ độ tuổi nào. Ở độ tuổi nào chó cũng có thể nhiễm bệnh. Tuy nhiên bệnh thường gặp ở trên chó đực.
  • Với đặc tính nguy hiểm của bệnh, nếu thấy chó cưng có bất cứ triệu chứng nào, bạn cần đưa chó tới cơ sở thú y gần nhất để khám chữa. Tuyệt đối không nên tự điều trị tại nhà. Và cần tìm hiểu, lựa chọn những cơ sở thú y uy tín để khám chữa.

Bệnh viêm gan ở chó

Bệnh cực kỳ nghiêm hiểm vì có thể gây tử vong cho chó chỉ sau 1 vài giờ.

  • Bệnh có thể xảy ra với tấc cả các giống chó chưa tiêm vaccine CVA-1. Đặc biệt là chó dưới 1 năm tuổi. Và bệnh hoàn toàn không lây sang người.
  • Khi bị nhiễm bệnh, chó thường có các biểu hiện như: sốt, bỏ ăn, tiêu chảy, nôn ra máu, đau quặn vùng bụng do sưng gan…
  • Để phòng tránh bệnh viêm gan, cách duy nhất là tiêm vacxin phòng bệnh đầy đủ cho chó cưng.
  • Bệnh viêm gan ở chó cũng không có thuốc điều trị đặc hiệu. Nếu phát hiện chó có bất kỳ dấu hiệu nào, bạn cần đưa chó đến ngay cơ sở thú y để điều trị. Để lâu sẽ rất nguy hiểm vì bệnh có thể gây tử vọng rất nhanh.

Theo nef.vn

Nuôi heo (lợn) an toàn sinh học

Nuôi heo nái từ quy mô lớn trang trại đến cấp độ nhỏ gia đình là một nghề rất phổ biến trong sản xuất nông nghiệp ở Long An. Dù vậy, qua khảo sát thực tế vẫn còn không ít nơi chăn nuôi heo nái gặp phải các trở ngại như: heo nái hậu bị chậm hoặc rối loạn lên giống, tỷ lệ đậu thai thấp, heo nái đẻ ít con, heo con yếu, heo con chết non... dẫn đến hiệu quả kinh tế của người nuôi không được như mong muốn.

Về cơ bản nếu muốn khắc phục, cải thiện, người nuôi heo nái cần tập trung rà soát lại hiện trạng để áp dụng 6 biện pháp quản lý và kỹ thuật sau đây:

Luôn sử dụng con giống tốt

Giống heo phù hợp nuôi sinh sản hiện nay là giống Yorkshire và Landrace thuần hoặc heo lai (cha) Yorkshire x (mẹ) Landrace (nếu sử dụng tinh nọc là giống Landrace và mẹ là giống Yorkshire thì khả năng sinh sản của heo nái lai sau này vẫn được nhưng có thấp hơn đôi chút).

Heo nái hậu bị cần có nguồn gốc rõ ràng và trong quá trình nuôi cần đánh giá sức phát triển, ngoại hình để có thể quyết định lưu giữ hay loại thải. Nên mua heo nái hậu bị có trọng lượng ít nhất trên 60 kg thay vì mua heo nhỏ lúc lẻ bầy, sẽ giúp giảm tình trạng heo không đạt yêu cầu phải loại thải.

Khi heo đẻ, cần tiếp tục theo dõi, ghi lại số liệu liên quan đến sức sinh sản, chất lượng heo con ở tất cả các lứa đẻ, nếu không đạt cần mạnh dạn loại thải.

Áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp và ổn định

Nhu cầu dinh dưỡng của heo nuôi sinh sản có thể phân thành 4 giai đoạn khác nhau về số lượng và thành phần các chất bên trong khẩu phần thức ăn: hậu bị, mang thai, nuôi con và nái khô chờ phối. Việc cung cấp thức ăn không đầy đủ, không phù hợp với các giai đoạn sinh trưởng đều ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sinh sản. Đa phần các trường hợp chậm lên giống lúc heo kết thúc giai đoạn hậu bị đều có nguyên nhân từ nguồn thức ăn không phù hợp, hoặc cho ăn quá nhiều hoặc cho ăn không đủ, không cân đối các chất dinh dưỡng, chưa kể những heo này dễ gặp tình trạng đậu thai ít, heo con chết non hoặc yếu.

Trước đây, người nuôi heo nái gặp khá nhiều khó khăn trong việc phối trộn thức ăn sao cho phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của heo nái nhưng hiện nay thì việc phát triển công nghiệp thức ăn đóng bao chuyên dùng đã giúp giải quyết một cách đơn giản khó khăn này. Người nuôi giờ đây chỉ cần mua và sử dụng các loại thức ăn đã phối trộn phù hợp cho heo nái ở các giai đoạn sinh trưởng theo đúng khuyến cáo định lượng của nơi sản xuất thức ăn. Đây là giải pháp có thể nói là tốt nhất trong việc áp dụng chế độ dinh dưỡng - thức ăn dành cho heo nuôi sinh sản. Người nuôi chỉ còn tập trung theo dõi, đánh giá thể trạng, kết quả sinh sản của heo nái để nếu cần có thể điều chỉnh tăng, giảm đôi chút số lượng thức ăn hoặc bổ sung một số chất vi dinh dưỡng (khoáng, vitamin, acid amin hoặc một số loại men tiêu hóa) nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thức ăn.

Tạo tiểu môi trường chăn nuôi thích hợp với đặc điểm sinh lý của heo nuôi sinh sản

Đối với các trường hợp xây chuồng trại mới hay cải tạo chuồng trại đã có đều cần đáp ứng được các yêu cầu sau: sạch sẽ, thông thoáng, thuận tiện công việc vệ sinh và xử lý chất thải. Trong thực tế, đặc điểm khí hậu ở Long An và các địa phương khu vực miền Đông và Tây Nam bộ có khoảng thời gian lạnh ngắn và mức độ lạnh cũng không cao, còn tình trạng nóng thì diễn tiến thường xuyên, nhất là vào mùa khô; trời nóng sẽ gây tác động xấu đến sức khỏe và sức sinh sản của heo nái mạnh hơn trời lạnh. Trong điều kiện khí hậu như thế, yêu cầu chung là chuồng trại và khu vực xung quanh cần áp dụng càng nhiều biện pháp giảm nhiệt càng tốt như: nuôi mật độ thưa hơn mức kỹ thuật khuyến cáo chung, tăng độ cao chuồng nuôi, sử dụng các loại vật liệu xây dựng có tính năng cách nhiệt, trồng cây xanh che bớt nắng, đào ao gần nơi nuôi kết hợp lấy mặt nước giảm nhiệt và xử lý sinh học chất thải, lắp đặt hệ thống phun sương trong chuồng...

Áp dụng cách chăm sóc thích hợp

Nguyên tắc chung là tạo môi trường yên tĩnh để hạn chế các tác động gây stress (choáng) do tiếng động lớn, chuyển chuồng, xua đuổi hay heo cắn nhau, nhất là khi heo mang thai và đẻ. Tốt nhất là từ lúc phối giống, heo hậu bị nên nuôi tách riêng cá thể bằng chuồng lồng để vừa thuận tiện theo dõi (đánh giá thể trạng, sức khỏe, phối giống, sử dụng vaccin...) vừa giảm thiểu được các tác động gây stress. Cách nuôi riêng cá thể này tiếp tục áp dụng cho các giai đoạn mang thai, đẻ, nuôi con và cả nái khô chờ phối lại.

Áp dụng chặt chẽ quy trình vệ sinh thú y

Cần thực hiện chuẩn xác lịch trình phòng bệnh (vaccin và thuốc thú y), vệ sinh chuồng trại, xử lý chất thải, kiểm soát người và phương tiện ra vào nơi chăn nuôi... theo phương thức chăn nuôi an toàn sinh học cho mọi thời điểm, tình huống, lúc không có dịch bệnh cũng như lúc có dịch đe dọa.

Ghi và lưu giữ toàn bộ số liệu về diễn tiến chăn nuôi

Đây là một yêu cầu rất cần thiết vì giúp người chăn nuôi không chỉ đánh giá được toàn bộ tiến trình sinh trưởng, sinh sản của heo nái để có những điều chỉnh kịp thời về con giống, chế độ dinh dưỡng, cách chăm sóc, quy trình vệ sinh thú y... mà còn để đúc kết chính xác hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi qua con số thu, chi cụ thể. Trong thực tế, hầu như toàn bộ các trang trại chăn nuôi đều thực hiện việc quản lý sổ sách như trên. Ngược lại, đối với cơ sở nuôi heo quy mô trung bình và nhỏ cấp nông hộ thì rất ít trường hợp áp dụng do chưa quen hoặc ghi chưa chính xác, ghi không đủ, ghi gián đoạn... Trở ngại này chính là nguyên nhân làm hạn chế nâng cao tay nghề của người nuôi cho dù phần lớn người nuôi heo nái ở nông hộ đều có quá trình chăn nuôi lâu dài cùng với không ít kinh nghiệm thực tiễn.

VĂN THẠNH (Trung tâm dịch vụ nông nghiệp Long An) - Khoa học Phổ thông, 18/05/2020

Một số biện pháp phòng bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Hiện nay tại tỉnh Thái Bình đã xuất hiện bệnh viêm da nổi cục trên bò, đây là bệnh do virus gây ra, đường truyền lây chủ yếu qua côn trùng đốt như muỗi, ruồi, ve; bệnh cũng có thể lây truyền do vận chuyển trâu, bò mang mầm bệnh, sử dụng chung máng uống, khu vực cho ăn, sữa, tinh dịch và qua tiếp xúc trực tiếp.

Ảnh minh họa.

Triệu chứng đặc trưng của bệnh là trâu, bò mắc bệnh có biểu hiện sốt cao, hình thành các nốt sần hình tròn, chắc và nhô cao có đường kính từ 2 - 5cm trên da, đặc biệt là ở da đầu, cổ, chân, bầu vú, cơ quan sinh dục và đáy chậu trong vòng 48 giờ sau khi bắt đầu phản ứng sốt. Các nốt sần lớn có thể bị hoại tử và cuối cùng là xơ hóa và tồn tại trong vài tháng; để lại các vết sẹo có thể tồn tại vĩnh viễn...

Hiện nay trên thế giới đã có vắc-xin phòng bệnh viêm da nổi cục, tuy nhiên hiện tại nước ta chưa có, để phòng bệnh có hiệu quả, người chăn nuôi cần áp dụng đầy đủ, đồng bộ các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học:

- Chỉ chọn mua con giống ở những cơ sở được cấp phép, an toàn dịch bệnh, có uy tín, con giống khỏe mạnh và có giấy kiểm dịch của cơ quan thú y. Không mua bán, vận chuyển, giết mổ trâu, bò và sản phẩm trâu, bò không rõ nguồn gốc, trâu, bò ốm hoặc nghi mắc bệnh.

- Trâu, bò mua về phải nuôi cách ly trong thời gian 2 - 3 tuần để theo dõi, xử lý khi trâu, bò có biểu hiện bất thường và ngăn chặn dịch bệnh lây lan.

- Kiểm soát tốt mọi thứ ra - vào khu vực chăn nuôi bao gồm con giống, người chăn nuôi, khách tham quan, thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, sản phẩm và chất thải chăn nuôi, động vật khác...

- Thường xuyên vệ sinh chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi, thu gom phân rác, khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc khử trùng từ 1 - 2 lần/tuần. Đồng thời, phun thuốc tiêu diệt ruồi, muỗi, ve, mòng... thường xuyên.

- Cho trâu, bò ăn thức ăn, nước uống sạch đầy đủ và phù hợp theo lứa tuổi.

- Bổ sung khoáng chất, vitamin để chống stress cho trâu, bò khi thời tiết thay đổi đột ngột, sau khi vận chuyển hoặc khi tiêm vắc-xin.

- Thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe của đàn trâu, bò. Khi có trâu, bò ốm nghi mắc bệnh viêm da nổi cục thì báo ngay cho cán bộ thú y và làm theo hướng dẫn. Tuyệt đối không bán chạy.

Trung tâm khuyến nông Thái Bình - Báo Thái Bình, 10/03/2021

Bệnh dịch tả ở dê, cừu

Đây là bệnh nhiễm trùng vi-rút ở dê, đôi khi xuất hiện ở cừu.
Triệu chứng: Bệnh chia làm 3 giai đoạn: quá cấp, cấp tính và á cấp tính.

Thể quá cấp kéo dài 4-6 ngày. Đầu tiên, con vật chảy nước mũi, sau đó sốt cao, ủ rũ, bỏ ăn, thở khó. Mắt, niêm mạc mũi và miệng có màu đỏ. Trong vòng 4 ngày bị ỉa chảy, con vật chết sau đó một vài ngày.

Thể cấp tính kéo dài khoảng 10 ngày. Dê, cừu chảy nước mắt, nước mũi, sốt kéo dài khoảng một tuần. Niêm mạc họng và miệng bị bào mòn, chảy nhiều dãi và có mùi hôi. Gia súc ủ rũ, bỏ ăn, ỉa chảy nặng. Nhiều trường hợp phát triển thành viêm phổi thứ phát.

Thể á cấp tính kéo dài khoảng hai tuần, phổ biến ở cừu. Dịch nước mũi chảy ra ít hơn so với các thể khác, sốt nhẹ và ỉa chảy cách quãng. Hầu hết cừu mắc bệnh đều khỏi.

Cách lây lan: Gia súc mắc bệnh là do hít phải vi -rút khi tiếp xúc trực tiếp giữa con khoẻ với con ốm. Thời gian ủ bệnh khoảng 2-6 ngày. Bệnh có thể lan sang khu vực mới do quá trình vận chuyển gia súc mắc bệnh.

Điều trị: Không có thuốc điều trị đặc hiệu. Nguyên nhân gây chết là do bị mất nước. Điều trị bằng truyền dịch kết hợp với kháng sinh đối với nhiễm trùng thứ phát. Bệnh dịch tả có thể thúc đẩy một số bệnh khác, như bệnh ký sinh trùng đường máu và đường ruột. Như vậy, khi dê, cừu bị dịch tả, ta có thể dùng thêm thuốc chống ký sinh trùng đơn bào và thuốc tẩy giun sán.

Phòng chống: Tiêm phòng vắc-xin là biện pháp phòng bệnh có hiệu quả nhất. Tiêm phòng cho miễn dịch lâu dài và một khi tất cả gia súc đã được tiêm phòng thì việc còn lại phải làm là hai năm một lần tiêm phòng cho tất cả các gia súc non chưa được tiêm.

Chú ý: Vi-rút dịch tả dê, cừu có quan hệ chặt chẽ với tác nhân gây bệnh dịch tả trâu, bò. Do vậy, người chăn nuôi cần chú ý đề phòng và phát hiện đúng bệnh để giảm thiệt hại về kinh tế.

Trần Nga (Theo KTNT)

Kỹ thuật chăn nuôi cừu

Kỹ thuật chăn nuôi cừu

Chuồng trại

Cần cao ráo, thông thoáng, sáng sủa, không có gió lùa, tránh được mưa, nắng hắt trực tiếp vào, mùa hè mát, mùa đông ấm, có sân chơi bằng phẳng và có máng uống.

- Mặt sàn cách mặt đất 0,8 - 1m tạo độ thoáng và đủ độ cao để vệ sinh quét dọn dễ dàng, khe hở mặt sàn 1,5cm.

- Máng ăn bố trí sát mặt ngoài sàn (ở phía trước chuồng) để cừu thò đầu ra ăn. Chuồng nuôi phải bảo đảm vệ sinh, quét dọn phân hằng ngày. Mỗi tháng tẩy uế chuồng 1 lần bằng vôi bột hoặc Dipterex.

- Diện tích cần bảo đảm cho mỗi đàn cừu là: Đực giống 1,5 - 2m2, cái sinh sản 1,3 - 1,5m2, cái tơ 0,6m2.

Con giống

Con cái: Không nên chọn những con cừu cái đã già. Một con cừu cái tốt có đặc điểm đầu rộng hơi dài, mình nở, ngực sâu, lưng thẳng, hông rộng, lông mượt, bộ phận sinh dục nở nang, bầu vú phát triển, vú có da mềm nhão nhưng khi bầu vú căng sữa sẽ tiết sữa nhiều, gân sữa nổi rõ trên bầu vú.

Con đực: Chọn con khỏe mạnh, đồng đều, không bị dị tật. Riêng cừu đực phải nhốt riêng, 8 - 9 tháng tuổi mới cho chúng phối giống. Nếu phối tự do, một cừu đực có thể đảm nhận cho 20 - 30 cừu cái. Còn nếu phối giống có kiểm soát thì nó còn có thể phụ trách tới 40 - 50 cừu cái. Tỷ lệ đực/cái:1/25, đồng thời thường xuyên (1,5 năm) thì thay đổi đực để tránh đồng huyết.

Chăm sóc

Cừu mẹ: Chu kỳ động dục cừu cái là 16 - 17 ngày. Sau khi phối giống, qua 16 - 17 ngày không thấy động dục trở lại là cừu cái có chửa. Cừu cái chửa cho ăn thêm thức ăn tinh, rau cỏ non. Khi có dấu hiệu sắp đẻ như bầu vú căng, xuống sữa, âm hộ sưng to, cào bới sàn… thì nhốt riêng, chuẩn bị ổ cho cừu đẻ. Cừu mang thai 146 - 150 ngày. Căn cứ vào ngày phối giống để chú ý đỡ đẻ cho cừu, tránh đẻ bất ngờ làm chết cừu con. Sau khi cừu đẻ, dùng khăn mềm, sạch, ẩm để lau nước nhầy ở miệng, mũi cho cừu con, lấy dây chỉ sạch buộc rốn (cách rốn 5 - 6cm), rồi dùng kéo cắt cách vết buộc 2 cm. Bôi cồn iốt để sát trùng. Đẻ xong, cừu mẹ khát nước nhiều, pha nước đường 1% + muối 0,5% cho cừu mẹ uống thoải mái.

Cừu con: Sau khi sinh ra, cừu con cần được bú sữa đầu là sữa chứa nhiều dinh dưỡng và giúp cho cừu sau này chống chịu được bệnh tật. Trong 10 ngày đầu sau đẻ cho cừu con bú mẹ tự do; 11 - 20 ngày tuổi, cừu con bú mẹ 3 lần/ngày, đồng thời tập cho cừu con ăn thức ăn tinh, rau cỏ xanh; 80 - 90 ngày tuổi, cho cừu con cai sữa.

Cừu nuôi thịt: Gồm các cừu đực đã cai sữa và con giống loại thải. Cừu nuôi bán thịt phải nhốt riêng, tránh quậy phá đàn, hư hỏng chuồng trại. Trước khi xuất chuồng 2 tháng cho ăn khẩu phần tăng cường để tăng trọng lượng lúc bán. Thức ăn bổ sung có thể là thức ăn tinh, cỏ, rau xanh, củ quả, phụ phẩm nông nghiệp…

Dinh dưỡng

Cừu ăn được nhiều loại thức ăn như cỏ tươi, rơm, các loại dưa, bí, cà rốt, củ cải, ngô ủ chua… Để tăng cường dinh dưỡng cho cừu, ngoài thức ăn thô xanh, hằng ngày cho ăn thêm 0,1 - 0,3kg thức ăn tinh (bột ngô, khoai, sắn…).

Vào mùa thức ăn tươi đầy đủ, trong thức ăn thường đầy đủ các yếu tố khoáng và vitamin, song vào mùa đông khô và rét, thức ăn tươi hiếm, khẩu phần ăn cần bổ sung canxi và các Vitamin A, D…, tránh tình trạng dê nuôi bị thiếu dinh dưỡng, đẻ non, đẻ con yếu, ít sữa nuôi con, niêm mạc mắc khô, mắt mờ… Đối với cừu yêu cầu lượng Canxi hàng ngày trung bình 5,5 - 9g và 2,9 - 5g phốt pho, khoảng 3.500 - 11.000 UI Vitamin D… Hiện nay có tảng liếm để bổ sung khoáng có bán trên thị trường. Hằng ngày nên bổ sung 6 - 9g canxi, 3 - 5g phốt pho, Vitamin D 4.000 - 10.000 đơn vị/ngày.

Cần phải có đủ nước sạch để cừu uống tại chuồng. Không nên cho cừu uống nước tù đọng để tránh cừu bị nhiễm giun sán.

Phòng, trị bệnh

Thực hiện các biện pháp phòng bệnh an toàn sinh học cho cừu:

- Thực hiện tiêm phòng đầy đủ cho cừu như lở mồm long móng 2 lần/năm; Tụ huyết trùng 2 lần/năm và một số bệnh khác.

- Chuồng nuôi bảo đảm vệ sinh, quét dọn phân hàng ngày. Sát trùng định kỳ 1 lần/tháng bằng vôi hoặc Dipterex.

- Tuyệt đối không sử dụng các loại thức ăn hôi mốc.

- Định kỳ tắm chải cho cừu sạch sẽ (mùa hè 2 - 3 lần/tháng, mùa đông khi nắng ấm).

- Máng nước uống phải sạch sẽ và đủ nước sạch.

- Định kỳ tẩy giun sán 1 năm 3 lần./.

Những điều cần biết khi chăn nuôi cừu

Nuôi cừu hay chăn nuôi cừu là việc thực hành chăn nuôi các giống cừu nhà. Đây là một bộ phận trong chăn nuôi gia súc. Cừu được chăn nuôi để lấy các sản phẩm quan trọng như thịt cừu, sữa cừu, lông cừu, da cừu và các sản phẩm khác. Đây là một trong những loài gia súc được con người thuần hóa sớm nhất để lấy lông, thịt, sữa, mỡ và da. Đàn cừu trên thế giới hiện nay là trên 1 tỷ con. Cừu vẫn là một loại gia súc cung cấp thịt và lông quan trọng cho đến ngày nay, và người ta cũng lấy da, sữa và động v

Cừu có tính bầy đàn cao nên dễ quản lý, chúng thường đi kiếm ăn theo đàn nên việc chăm sóc và quản lý rất thuận lợi. Cừu cũng là loài dễ nuôi, mau lớn, ít tốn công chăm sóc, ít bệnh tật, chuồng trại lại đơn giản và rẻ tiền, việc chăn thả cũng rất đơn giản, buổi sáng thả ra để chúng lên núi kiếm ăn, đến tối mới lùa về chuồng, chúng còn thích nghi với mọi địa hình từ đồng bằng đến vùng đồi núi, chẳng hạn ở Ninh Thuận là vùng khô và nóng nhất, ở đây nóng nhưng cừu không biết nóng, ngay giữa trưa nắng oi bức thế nhưng những con cừu vẫn tha thẩn tìm những ngọn cỏ hiếm hoi, cả đàn cừu vẫn lặng lẽ, kiên trì kiếm ăn giữa trời nắng nóng như thiêu đốt.

Chăn nuôi cừu

So với chăn nuôi bò thì cừu là vật nuôi dễ tính hơn, thức ăn của cừu rất đa dạng, Thức ăn của cừu là những loại không cạnh tranh với lương thực của người, thậm chí, nó còn ăn cả những loại mà không loài nào ăn được ví dụ như xương rồng có trong thiên nhiên Hoang dã. Nhìn chung, thức ăn chủ yếu là cỏ và cây bụi, chúng ăn được nhiều loại cây cỏ, chúng ăn cả thức ăn thô xanh (như các loại cỏ, các loại lá cây...), thức ăn thô khô (như các loại cỏ khô) cùng các loại thức ăn ủ chua, thức ăn củ quả các loại phụ phẩm của công nghiệp thực phẩm. Vào mùa khô, có thể cho cừu ăn thêm thức ăn tinh (như cám, bột mỳ...). Tuy nhiên, thức ăn thô vẫn là chủ yếu.

Cừu là động vật có vú ăn rất nhiều cỏ. Hầu hết chúng gặm cỏ và ăn các loại cỏ khô khác, tránh các phần thực vật có gỗ nhiều, chúng là động vật nhai lại, an toàn hơn chăn thả gia súc, vì chúng phải hạ thấp đầu trong khi ăn nên dễ bị các động vật ăn thịt tấn công, trong khi nhai lại thì không.

Cừu có chế độ hoạt động ban ngày, ăn từ sáng đến tối, thỉnh thoảng dừng lại để nghỉ ngơi và nhai lại. Đồng cỏ lý tưởng cho cừu như cỏ , họ đậu. Khác với thức ăn gia súc, thức ăn chính của cừu trong mùa đông là cỏ khô. Khả năng phát triển tốt của chúng thường trên các đồng cỏ tùy theo giống, như tất cả cừu có thể tồn tại theo chế độ ăn này. Trong một số khẩu phần ăn của cừu cũng bao gồm các khoáng chất, hoặc trộn với lượng ít. Nguồn nước uống là nhu cầu cơ bản của cừu. Lượng nước cần cho cừu biến động theo mùa và loại và chất lượng thực phẩm mà chúng tiêu thụ. Khi cừu ăn nhiều trong các tháng đầu tiên và có mưa(kể cả sương, khi cừu ăn vào sáng sớm), cừu cần ít nước hơn. Khi cừu ăn nhiều cỏ khô thì chúng cần nhiều nước. Cừu cũng cần uống nước sạch, và có thể không uống nếu nước có tảo hoặc chất cặn.

Chỉ có một số cừu thường xuyên cho ăn ngũ cốc nồng độ cao, ít giữ trong trại. Đặc biệt ở các quốc gia công nghiệp hóa, các nhà sản xuất cừu có thể vỗ béo cừu trước khi giết mổ. Nhiều nhà nhân giống cừu cho cừu cái ăn với một tỷ lệ lớn ngũ cốc nhằm tăng sự thụ tinh. Cừu cái có thể được vỗ béo trong thời kỳ mang thai làm tăng trọng, 70 % tăng trưởng của cừu xảy ra trong 5 đến 6 tuần cuối của thai kỳ. Ngược lại, chỉ khi cừu cái cho con bú hoặc cừu ốm yếu cần vỗ béo thì mới cho ăn ngũ cốc.Thức ăn cho cừu phải được tính theo công thức đặc biệt, như hầu hết Gia súcGia cầm và thậm chí là dê, thức ăn chứa nhiều đồng có thể gây chết cừu.

Cừu đẻ trung bình 1,55 lứa/năm. Mỗi lứa được 1-2 con, cũng có con đẻ 3 con/lứa, sinh sản tập trung trong thời gian ngắn, tính trung bình, mỗi năm cừu sinh sản 2 lứa, mỗi lứa chỉ có 1 con, nhưng sinh sản tập trung trong thời gian ngắn. Khi đẻ là đẻ đồng loạt nên không tốn nhiều công chăm sóc con nhỏ. Cừu là gia súc có thời gian sinh trưởng rất nhanh, chỉ sau 8 - 9 tháng là bắt đầu sinh. Còn nuôi thương phẩm thì chỉ 5 - 7 tháng đạt trọng lượng khoảng 20 kg là có thể xuất bán. Cừu đực phải nhốt riêng, 8-9 tháng tuổi mới cho chúng phối giống. Nếu phối tự do, một cừu đực có thể đảm nhận cho 20-30 cừu cái. Còn nếu phối giống có kiểm soát thì nó còn có thể phụ trách tới 40-50 cừu cái. Các loại dịch bệnh trên cừu cũng rất ít. Bệnh thường gặp là tụ huyết trùng, viêm phổi… thường xuất hiện khi thời tiết chuyển mùa và trong mùa mưa, nếu phát hiện sớm là chữa trị dứt điểm

 

Biến thể của virus gây Dịch tả heo Châu Phi ở Trung Quốc

Virus ASFv mới đang lưu hành ở Trung Quốc là từ virus đã bị xóa hai gen MGF360 và CD2v, được dùng để điều chế vaccine. Điều này làm suy yếu, nhưng không khiến virus trở nên vô hại, nó vẫn có khả năng gây bệnh nhưng nhẹ hơn virus hoang dã. Vì vậy tính hiệu quả và mức độ an toàn của vaccine thật sự không rõ ràng.

Giống như vaccine PRRS (Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo, Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome) bị xóa gen kép sau khi tiêm cho heo nái vẫn gây chết phôi, thai chết lưu, thai gỗ, vô sinh, sẩy thai và heo nái có thể chết (mặc dù tỷ lệ tử vong không cao). Đối với trường hợp ASF, heo con sơ sinh có thể yếu và giảm sức sống. Triệu chứng của heo bị ASF mãn tính thường không điển hình, chủ yếu là tổn thương hệ mạch máu và suy giảm hệ miễn dịch. Các ổ nhiễm trùng bị xuất huyết, vón cục và hoại tử, đồng thời các nơi bị tổn thương mãn tính thường bị xơ hóa và được thấy ở nhiều cơ quan khác nhau dưới kính hiển vi, đặc biệt là ở các hạch bạch huyết và thận.

Trong tự nhiên, virus thường có xu hướng biến thể theo thời gian. Tuy nhiên, trong trường hợp này không có dấu hiệu nào cho thấy virus đang nổi lên ở Trung Quốc là một dạng đột biến xóa tự nhiên. Hay nói đúng hơn đó là kết quả của việc cố ý đưa virus vaccine xóa gen kép vào một tỷ lệ đáng kể của đàn heo. Vì vaccine không được phê duyệt nên không có thông tin nào đáng tin cậy về số lượng vaccine đã được sử dụng cũng như mức độ lây lan thứ cấp là do heo bài thải virus vaccine hay do động vật trung gian.

Việc chính thức cấm tiêm phòng vaccine ASF đã được ban hành nhưng có dấu hiệu cho thấy việc tiêm phòng vẫn đang tiếp tục diễn ra, vì bệnh ASF đang lan rộng ở nhiều vùng của Trung Quốc, người chăn nuôi cảm thấy tuyệt vọng và cho rằng họ không có nhiều lựa chọn. Sự ra đời của vaccine xóa gen kép là một biến chứng không mong muốn đối với một vấn đề quá lớn và tình hình dịch tễ học đang nằm ngoài tầm kiểm soát.

Heo được tiêm phòng nói chung có kháng thể chống lại ASFv sau khi tiêm phòng từ 2 đến 3 tuần nhưng không phải con nào cũng có khả năng này. Vaccine bất hợp pháp tác động tiêu cực trên đàn heo nái sinh sản, làm cho nhiều trang trại phải dừng hoạt động. Tuy nhiên, virus vaccine vẫn lây lan và dường như vẫn tồn tại trong đàn ngay cả khi đã ngừng tiêm phòng. ASFv hoang dã có thể tìm thấy trong máu và mô của heo sau khi nhiễm vài tuần. Có khoảng 5 đến 20% số heo sống sót sau đợt bùng phát ASF chính thức thường có kháng thể.

Việc phát hiện virus vaccine mới bằng kỹ thuật PCR có thể là khó khăn. Kỹ thuật xét nghiệm ASFv thông qua mẫu swab nước bọt thường không đáng tin cậy, thậm chí còn ít nhạy cảm hơn với virus vaccine đã xóa genkép (vốn có thể không tìm thấy trong máu nhưng có thể tìm thấy trong các hạch bạch huyết và các mô khác trong trường hợp mẫu máu âm tính).

ASFv thường được phát hiện bằng kỹ thuật PCR đối với gen P72. Nếu P72 được phát hiện, xét nghiệm tiếp theo sẽ được thực hiện để tìm ra gen MGF360/CD2v hoặc cả hai được tiến hành đồng thời nếu muốn chắc chắn đó là virus thực địa (loại hoang dã) hay virus biến thể từ vaccine. Virus ASFv hoang dã thường dương tính với cả 3 gen (P72, MGF360 và CD2v), trong khi virus vaccine chỉ có gen P72 mà không có MGF360/CD2v nên các xét nghiệm thường cho kết quả dương tính với P72 và âm tính với MGF360/CD2v.

Các nhà chức trách Trung Quốc đangcho tiến hành nghiên cứu vaccine ASF nhưng dường như hoàn toàn không liên quan đến những gì đang xảy ra với vaccine bất hợp pháp. Hiện các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Thú y Cáp Nhĩ Tân (Harbin Veterinary Research Institute) đã công bố tiến bộ đạt được trong năm 2020. Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế không quá lạc quan về vaccine mới của họ. Theo đó, vaccine sống nhược độc (chủng HLJ/-18- 7GD) của Cáp Nhĩ Tân sẽ bị xóa 7 gen (MGF505- 1R, MGF505-2R, MGF505-3R, MGF360-12L, MGF360-13L, MGF360-14L, và CD2v deleted), dựa trên cách tiếp cận xóa 6 gen của Trung tâm Dịch bệnh Động vật Plum Island, một bộ phận của Dịch vụ Nghiên cứu Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu ở Plum Island cho rằng việc xóa thêm gen thứ 7 (CD4) sẽ không cải thiện được kết quả.
Thực tế, vaccine Cáp Nhĩ Tân với 7 gen bị xóa đã không được tung ra thị trường. Nó thiếu 2 gen bị cắt từ vaccine đã bị xóa gen kép cộng với 5 gen bị xóa khác. Hiện Cáp Nhĩ Tân đã và đang tiến hành thử nghiệm an toàn tại thực địa trên cơ sở giới hạn và được cho phép bởi các quy định hiện hành. Không có thông tin rõ ràng về việc có bao nhiêu loại vaccine bất hợp pháp trên thị trường mặc dù nó vẫn đang được lưu hành.

Một báo cáo của tập đoàn New Hope Liuhe (một trong 5 tập đoàn hàng đầu về chăn nuôi heo của Trung Quốc) cho thấy có sự lây nhiễm của 2 chủng ASFv mới trên hơn 1.000 cá thể heo nái ở một số trang trại, các chủng virus này thiếu cả hai gen MGF360 và CD2v.

PGS.TS. Đỗ Võ Anh Khoa1, TS. Phan Thị Hồng Phúc1, TS. Nguyễn Tuyết Giang2, TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh3
1Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên
2Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
3Trường Đại học Cần Thơ

(Lược dịch từ: www.pigprogress.net; ASFv mutation in China: What does it mean on-farm?)

Nguồn: Tạp chí chăn nuôi Việt Nam

Bắt rác thải 'đẻ' ra tiền

Nông nghiệp tuần hoàn hay còn gọi là kinh tế tuần hoàn dường như là khái niệm khá mới mẻ với nhiều người, nhưng thực tế chính là mô hình vườn, ao, chuồng (VAC), nay ứng dụng thêm công nghệ cao.

Chất thải vẫn đầy giá trị

Tại trang trại bò sữa Tây Ninh (Long Khánh, Bến Cầu, Tây Ninh), nông nghiệp tuần hoàn bắt đầu từ việc xử lý các chất thải của bò.

Với 8.000 con bò, trung bình 1 tháng trang trại sinh ra 500 con bê. Một ngày lượng phân thải ra khoảng 50 tấn. Đồng thời, đàn bò cũng tiêu tốn 200 tấn thức ăn; nước uống, tắm cho bò, nước vệ sinh chuồng trại cũng lên tới gần 2.500 m3. Từ đó, trang trại đòi hỏi phải có một hệ thống thu gom, chứa và xử lý chất thải đồng bộ.

Mô hình nông nghiệp tuần hoàn tại Trang trại bò sữa Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.

Mô hình nông nghiệp tuần hoàn tại Trang trại bò sữa Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.

Hơn 1.200 tỷ đồng đã được trang trại đầu tư để tạo hệ thống xử lý các chất thải khép kín. Theo đó, phân và nước thải được tái sử dụng để cung cấp cho các hầm biogas.

Phân từ hầm chứa biogas được ủ với các men vi sinh bón cho đồng cỏ để cung cấp thức ăn xanh cho đàn bò. Từ đó, môi trường của trang trại ngày được cải thiện, đàn bò khỏe mạnh hơn, từng bước hình thành một môi trường chăn nuôi lý tưởng như một resort.

Tương tự, mô hình khép kín, tuần hoàn tận dụng lợi ích của rau và cá trên cơ chế cộng sinh cá nuôi rau, rau nuôi cá, do Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP. HCM) chuyển giao kỹ thuật cho UBND tỉnh Tây Ninh cũng được xem là mô hình điển hình tại địa phương.

Mô hình khép kín, tuần hoàn, tận dụng lợi ích của rau và cá thực hiện tại TP. Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.

Mô hình khép kín, tuần hoàn, tận dụng lợi ích của rau và cá thực hiện tại TP. Tây Ninh. Ảnh: Trần Trung.

Mô hình thực hiện tại ấp Giồng Tre, xã Bình Minh, TP. Tây Ninh. Theo mô hình này, cá và rau được nuôi trồng trong cùng một hệ tuần hoàn.

Cá ăn thức ăn và tạo ra chất thải trong nước. Nước có chứa chất thải từ bể thủy sản được đưa vào hệ thống lọc cơ học và vi sinh. Nhờ sự tham gia của vi khuẩn có lợi, sẽ biến đổi nước thải từ bể thủy sản thành chất dinh dưỡng hữu cơ phù hợp cho cây trồng phát triển.

Mô hình vừa tiết kiệm chi phí phân bón và nguồn nhân lực, vừa tạo ra rau an toàn và đạt năng suất cao. Trung bình 1 ha trồng được 7.000 – 8.000 cây rau, mỗi cây nặng khoảng 200 – 300 gram, các bể cá được bố trí nuôi tùy theo mô hình. Trung bình một bể cả 3 tháng cho thu hoạch từ 500 – 1.000 kg.

Rau từ mô hình cũng là rau an toàn bởi trồng trong môi trường nước tuần hoàn, không hóa chất và phân bón. Rau có thể để được 15 - 20 ngày sau thu hoạch.

Xu hướng tất yếu

Theo TS Trần Đình Lý, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm TP. HCM, việc phát triển nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường qua mô hình nông nghiệp tuần hoàn là một xu thế tất yếu. Quá trình sản xuất theo một chu trình khép kín, hầu hết các chất thải được quay trở lại làm nguyên liệu cho sản xuất.

Mô hình tuần hoàn vịt trên sàn, cá dưới ao của người dân tại huyện Châu Thành (Tây Ninh). Ảnh: Trần Trung.

Mô hình tuần hoàn vịt trên sàn, cá dưới ao của người dân tại huyện Châu Thành (Tây Ninh). Ảnh: Trần Trung.

Chất thải và phụ phẩm của quá trình sản xuất này là đầu vào của quá trình sản xuất khác. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng cao, giảm tối thiểu sự lãng phí, thất thoát và nhất là giảm tối đa chất thải ra môi trường.

Đây chính là điểm khác biệt lớn với nền kinh tế truyền thống chỉ quan tâm đến việc khai thác tài nguyên nhằm tối đa hóa sản lượng, vứt bỏ một lượng phế thải khổng lồ gây ô nhiễm môi trường.

Có thể nói, trong giai đoạn khó khăn vì bệnh dịch Covid-19 như hiện nay, doanh nghiệp thực hành theo mô hình này sẽ có khả năng duy trì được sự ổn định trong sản xuất và có khả năng vượt qua khủng hoảng để phát triển.

Bản chất của nông nghiệp tuần hoàn chính là tái sử dụng các phụ phẩm trong sản xuất thành nguyên liệu mới, thay vì tìm kiếm và khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Mô hình trồng rau, nuôi cá 7 màu để phát triển cà cuống lấy tinh dầu tại Thị xã Trảng Bàng (Tây Ninh). Ảnh: Trần Trung.

Mô hình trồng rau, nuôi cá 7 màu để phát triển cà cuống lấy tinh dầu tại Thị xã Trảng Bàng (Tây Ninh). Ảnh: Trần Trung.

Nông nghiệp tuần hoàn giúp giảm chi phí điều hành doanh nghiệp; tăng khả năng cạnh tranh và đưa tới cơ hội phát triển toàn cầu; giảm thiểu rủi ro về khan hiếm tài nguyên và biến động giá cả hàng hóa; giải quyết lợi ích doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. 

"Nông nghiệp tuần hoàn cũng thúc đẩy sử dụng các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn tài nguyên; bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; giảm sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu hóa thạch, không tái tạo được, như chính cách mà "ông lớn" ngành sữa là Vinamilk đang vận dụng”, TS Trần Đình Lý khẳng định.

Theo Sở NN-PTNT tỉnh Tây Ninh, hiện nay tỉnh Tây Ninh có chủ trương phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Mô nông nghiệp tuần hoàn không khó, nhưng phải có một kiến thức nhất định. Đối với người có trình độ học vấn tốt nghiệp THCS vẫn có thể làm được. Tỉnh Tây Ninh kỳ vọng mô hình này sẽ đưa KH-CN về Tây Ninh để nhiều người cùng làm và cùng sử dụng sản phẩm sạch.

Trần Trung

Nga đặt nhiều kỳ vọng vào giống gà Smena-9

Ngành công nghiệp gia cầm Nga luôn phụ thuộc vào nhập khẩu giống tương đối đắt đỏ giờ đây đã có thể ‘mở mày mở mặt’ với giống gà thịt lai mới trong nước Smena-9.

Giống gà lai mới của Nga Smena-9. Ảnh: Igor Sakharov

 

Dự kiến giống gà Smena-9 sẽ sớm được cấp bằng sáng chế, và nó đang thu được nhiều kỳ vọng sẽ chấm dứt phụ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu đắt đỏ từ nước ngoài. Ngành chăn nuôi gia cầm Nga cũng tự tin trong vòng 10 năm tới, giống gà Smena-9 có thể chinh phục toàn bộ thị trường nội địa.

 

Theo các nhà nghiên cứu giống gia cầm Nga, hành trình lai tạo để có được giống gia cầm đầu tiên của Nga không phải là không có những gập ghềnh, khi giống gà Smena-9 phải mất nhiều năm ròng tiếp nối từ các dòng tiền bối Smena-8 và Smena-7. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có dòng nào được đăng ký ở cấp bang chứ chưa nói đến việc giới thiệu thương mại.

 

Ông Dmitry Efimov, Giám đốc Viện Nghiên cứu và Công nghệ Chăn nuôi Gia cầm, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga cho biết: Giống gà lai mới Smena-9 đã chứng tỏ sự vượt trội hơn các dòng trước ở hầu hết các thông số sản xuất.

 

Theo ông Efimov, ngay từ khi bắt đầu phát triển sản phẩm, chúng tôi không những chỉ muốn tăng khả năng hình thành nguồn thịt từ cơ ngực mà còn cả ở đùi và cánh của giống mới. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu rằng hương vị thịt phụ thuộc vào di truyền nên quá trình lai phải bắt đầu từ các dòng giống đảm bảo thịt ngon.

 

Tiếp đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu, phát triển thức ăn riêng biệt cho dòng gà thịt này. “Không phải tất cả các giống gà thịt đều sử dụng cùng một loại thức ăn. Ví dụ, chúng tôi thấy thức ăn có chứa ít protein hơn trong sản xuất hữu cơ. Trong những điều kiện này, gà thịt sẽ không tăng cân nhanh chóng, vì vậy cần phải có một bộ hướng dẫn cụ thể”, ông Efimov nói.

Dựa trên kết quả báo cáo sản xuất thử nghiệm trên thực địa, giống gà Smena-9 đang thu hút rất nhiều sự chú ý của các nhà sản xuất Nga. Ảnh: Vladislav Vorotnikov

 

Cụ thể, khi so sánh với giống gà Ross 308, thịt gà giống Smena-9 hứa hẹn có hương vị và các đặc tính sức khỏe tốt hơn, trong khi giống gà mới có giá chỉ bằng một nửa so với giống nhập khẩu.

 

“Chúng tôi đã lai tạo thành công giống gà mới Smena-9 ngay ở trong nước với những đặc tính ngày càng hoàn thiện. Sản lượng trứng trên mỗi đầu con hiện đạt là 168 đơn vị. Trọng lượng gà thịt (cân hơi) vào ngày thứ 35 là 2,262kg, cao hơn 152g so với giống tiền nhiệm”, ông Efimov cho hay.

 

Ngoài ra, chỉ số năng suất gà thịt cũng đã tăng vọt từ 315 lên 385 điểm. Mức tăng trọng trung bình hàng ngày của con lai mới là 63,5g. Hàm lượng mỡ bụng giảm từ 1,4% xuống 1,2%. Tuy nhiên, theo các chuyên gia chính mùi vị của thịt giống gà lai mới Smena-9 rất có thể sẽ là lợi thế cạnh tranh chính.

 

Albert Davleyev, chủ tịch cơ quan tư vấn Nga Agrifood Strategies nhận xét, kết quả việc thử nghiệm thức ăn chăn nuôi này có vẻ đầy hứa hẹn. Cho đến nay, chỉ số năng suất của giống gà mới là trên 300 điểm và các chỉ số năng suất chính của nó về cơ bản có thể sánh ngang ngửa với các giống gà nhất nhì thế giới hiện nay là Ross 308 và Cobb 500. Theo ông Davleyev, tỷ lệ chuyển đổi của giống lai mới nằm trong khoảng từ 1,6 đến 1,85 và tỷ lệ sống khỏe là 92-98%, cả hai đều cho kết quả rất tốt.

 

Dự tính, giá thành của trứng gà Smena-9 sẽ thấp hơn so với trứng nhập của nước ngoài nhưng việc tiến hành thêm các thử nghiệm sâu rộng trên thực địa và giới thiệu giống mới trên toàn quốc sẽ mất vài năm.

 

Hiện giống gà Smena-9 đang thu hút rất nhiều sự chú ý của các nhà sản xuất Nga. Theo ông Efimov, các nhà khoa học đã đối chứng giống gà Smena-9 tại một số trang trại gà thịt ở Chelyabinsk Oblast, Sverdlovsk Oblast và Adygea để thử nghiệm sản xuất nhằm so sánh với giống gà Ross 308. Kết quả là tất cả các trang trại gia cầm Smena-9 tham gia vào các cuộc thử nghiệm trên các lô chuồng trại đều báo cáo kết quả tích cực.

 

“Chúng tôi đã nhận được rất nhiều liên hệ của vài chục công ty chăn nuôi rồi. Họ đều muốn sớm có con giống Smena-9 nhưng chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng cho việc ấp nở và giao hàng với số lượng lớn. Bạn phải hiểu rằng chúng tôi là những nhà khoa học. Mục tiêu của chúng tôi là phát triển thế hệ con lai mới. Điều này nó cũng giống như một cuốn sách, chúng tôi đã viết nó, và nhiệm vụ tiếp theo là nhân sao in ấn”, ông Efimov chia sẻ.

 

Thành tựu lai tạo giống mới đang đặt ra mục tiêu là Nga sẽ có thể tự chủ được 15% sản lượng gà thịt trong nước vào năm 2025.

 

Các nhà nghiên cứu đang dự tính một tương lai sáng cho giống gà Smena-9. Về lý thuyết, tất cả các trang trại gia cầm trong nước có thể chuyển sang con lai mới trong vòng 7-10 năm. Nhưng nhiệm vụ quan trọng hơn trong ngắn hạn là đẩy nhanh tốc độ sản xuất, nâng lên 15% sản lượng gà thịt của Nga vào năm 2025. Chúng tôi rất hy vọng rằng thị trường sẽ có lợi cho chúng tôi, đặc biệt là vì giống gà Smena-9 có giá rẻ hơn từ 25 đến 50% so với giống nhập ngoại.

 

Ông Efimov thậm chí còn đang cân nhắc việc sớm trình làng giống gà lai mới Smena-9 ra thị trường quốc tế. “Những gì giống mới thể hiện nói lên rằng chúng tôi sẽ sử dụng con lai của mình trong nước và còn có triển vọng xuất khẩu sang các nước như Belarus, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan”, ông Efimov nói.

Lô trứng 179.000 quả giống Smena-9 tại trung tâm giống và di truyền chuẩn bị ấp nở hồi năm 2020. Ảnh: Vladislav Vorotnikov

 

Dmitry Vosnesensky, Bộ trưởng nông nghiệp vùng Moscow Oblast cho biết chính quyền khu vực đang xem xét việc nâng cấp hệ thống trang trại ở làng Toporkovo để sản xuất giống lai mới, nhằm đạt mục tiêu tăng gấp năm lần sản lượng trứng ấp nở hiện tại. Ngoài ra một khoản trợ cấp của nhà nước cũng sẽ được hỗ trợ để xây dựng một trang trại chăn nuôi mới ở Chelyabinsk Oblast, Galina Bobyleva, để bắt đầu chuyển sang sử dụng giống gà mới Smena-9.

 

Các nhà phân tích Nga đã nhấn mạnh rằng nếu con lai được sản xuất trong nước sẽ dẫn đến cơ cấu chi phí dễ thở hơn cho các trang trại gia cầm trong nước. Nguyên do là ngành chăn nuôi gia cầm Nga hiện vẫn gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn gen nhập khẩu, trong khi hầu hết các hợp đồng đều thanh toán bằng đồng euro nên khiến cho ngành gia cầm càng thêm khó khăn.

 

Thống kê trong năm 2019, gã khổng lồ Aviagen kiểm soát tới 45% thị trường vật liệu di truyền ở Nga, với hai giống Ross 308 và Ross 708. Trong khi CobbVantress được cho là chiếm 35% thị trường cùng với Cobb 500 và Cobb 700, với một phần đáng kể do Hubbard nắm giữ.

 

Ông Andrey Dalnov, Giám đốc bộ phận phân tích của ngân hàng hàng đầu Nga Rosselhozbank, cho biết chuyển sang một giống gà lai nội địa có thể giúp các nhà sản xuất Nga ổn định chi phí sản xuất, do đó sẽ khiến họ bớt phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái. Dalnov tin rằng con lai của Nga cũng sẽ giúp cải thiện tình hình bệnh dịch nguy hiểm lây lan, bao gồm cả bệnh cúm gia cầm, tương đối cao hơn với các vật liệu di truyền nước ngoài nhập khẩu.

 

Kim Long

Nguồn: nongnghiep.vn

Phòng ngừa và giảm nhẹ nội độc tố trên bò

Nội độc tố, hay lipopolysaccharides (LPS), gồm có một chất béo (lipid) và các thành phần tinh bột (saccharide), là dấu vết còn lại của vách tế bào vi khuẩn Gram âm như E. coli và Salmonella. Chúng được giải phóng khi vi khuẩn chết và tăng lên khi các điều kiện gây chết tế bào vi khuẩn này tăng lên như vậy. Nguyên nhân phổ biến của nội độc tố phơi bày ở bò bao gồm thức ăn có kháng sinh và chứng nhiễm a-xít cận cấp tính (SARA).

 

Nội độc tố gây ra các phản ứng viêm sưng mạnh và được sử dụng kinh điển trong nghiên cứu để dẫn chứng cho tình huống gây sốt. LPS hoạt động bằng cách kết dính với các chất tiếp nhận chủ yếu ở nhiều loại tế bào, nhưng đặc biệt ở các tế bào đơn nhân, tế bào hình cây, đại thực bào và tế bào B đẩy mạnh sự bài tiết các cytokines tiền viêm sưng, oxit nitric và eicosanoids. Thú vị là, bò có thể không biểu lộ phản ứng sốt khi xử lý với nội độc tố rất cao hay rất thấp, dù cho thiếu sốt, ít ra ở bò không có nghĩa là không có một sự phóng thích và tác động của nôi độc tố.

 

Tổn hại cho Bò

 

Các tác dụng của nội độc tố ở bò có liên quan chặt chẽ với cả chứng a-xít dạ cỏ và chứng a-xít dạ cỏ cận cấp tính (SARA). SARA là căn bệnh chung ở bò nuôi vỗ béo và bò sản xuất sữa nhận khẩu phần ăn tăng năng lượng từ nguồn hạt. Tình trạng SARA có thể đưa đến kết quả không chỉ làm cho dung giải vi khuẩn Gram âm mà còn có thể đem lại hậu quả về tính toàn vẹn của vách dạ cỏ kém đi. Sự kết hợp này đưa đến kết quả là sự chuyền thế hệ của vi khuẩn như Fusobacterium necrophorum liên kết với áp xe gan và tăng hấp thu các nội tiết tố.

 

Tấn công gan

 

Có lẽ tác dụng bất lợi lớn nhất của nội độc tố trên năng suất là do tác động lên gan. Gan là cơ quan trước tiên chịu trách nhiệm loại bỏ các độc tố từ nhiều nguồn bao gồm các chất độc thực vật, độc tố nấm mốc và nội độc tố. Tế bào Kupffer là những đại thực bào chuyên biệt chịu trách nhiệm loại bỏ nội độc tố. Chúng cũng chịu trách nhiệm trong phần lớn đợt các trường hợp viêm sưng. Gan là cơ quan hết sức tích cực với nhiều chức năng. Ngoài chức năng khử độc và chức năng liên quan đến miễn dịch, gan còn quan trọng đối với việc sản xuất và tích lũy lại chất dinh dưỡng, carbohydrates và béo. Gan bị hỏng sẽ làm giảm sự hiện hữu của chất dinh dưỡng và sản xuất.

 

Thời gian quanh quá trình sinh đẻ

 

Bò sữa ở trong tình trạng cân đối năng lượng không đồng nhất với các nhu cầu về glucose mà phần lớn được sản xuất ở gan, và cả béo được tích lũy lại để phân phối tới các mô tế bào thông qua VLDL do gan thải ra. Thường thấy sự tích tụ béo tăng lên ở gan gần thời kỳ sinh đẻ.

 

Điều kiện có thể trở nên đủ trầm trọng, đưa đến hội chứng “gan nhiễm mỡ” kết hợp với giảm chức năng gan bao gồm việc sản xuất glucose bị giảm dẫn đến bệnh thở thơm (ketosis). Người ta cũng phát hiện rằng gan có hàm lượng béo tăng thì thực hiện công việc lọc nội độc tố từ máu kém, cho phép lượng nội độc tố lớn hơn lưu hành vào các mô tế bào khác.

Phòng ngừa và giảm nhẹ

 

Các nhà sản xuất có thể giảm được rủi ro về bệnh nội độc tố thông qua quản lý và sử dụng các chất bổ sung chủ lực Mức độ nội độc tố tăng cùng với pH dạ cỏ tăng. Việc duy trì pH dạ cỏ ổn định thông qua việc chọn lựa các nguyên liệu thức ăn và sử dụng các chất đệm tiềm năng có thể giảm được yếu tố nguy cơ này. Hơn nữa nhũng thách thức LPS trở nên tồi tệ hơn khi thay đổi thức ăn đột ngột từ khẩu phần cơ bản xơ sang khẩu phần hạt. Thêm vào sản phẩm độc tố nấm mốc nào đó được thiết kế để hấp phụ a atoxins và ergot alkaloids cũng có thể kết dính được các nội độc tố. Tuy nhiên không phải tất cả các sản phẩm đều có ái lực với LPS và nên chú ý chọn những sản phẩm đã được thử nghiệm và chứng minh để hấp phụ nội độc tố. Với sự quản lý tốt và thành phần thức ăn thích hợp, bò sữa của bạn có thể vượt qua tình trạng những nguy kịch trong điều kiện tốt.

 

Science & Solution No.37 – BIOMIN

02382205530

02382205530

Facebook: http://

Zalo: 02382205530